• Monday, Jul 06, 2020

Thăm Cộng đồng Người Việt ở New Caledonia

Thăm Cộng đồng Người Việt ở New Caledonia

Tới năm 1940, đã có tới 20,000 người Việt, đa số từ miền Bắc VN đã được chở tới các vùng đất này để làm phu mỏ.

December 29 at 4:00 pm

New Caledonia (Tân Thế Giới) là một quần đảo thuộc Pháp, rộng 18 ngàn kilô mét vuông, nằm trong vùng biển Nam Thái Bình Dương, với 280,460 ngàn dân, và thủ đô là Nouméa. Nó cách Úc khoảng 1,500 cây số, với gần hai giờ đi máy bay, nhưng với con tàu Carnival Splendor mà chúng tôi đang "du hành" thì phải mất tới gần ba ngày lênh đênh trên biển thì mới thấy nó ló dạng.

Sáng sớm, khi còn đang mơ màng trong giấc ngủ, tôi đã nghe thấy tiếng trống bập bùng từ xa vọng về. Tưởng là tàu mở nhạc Tây Nguyên, nhưng khi mở cửa kính từ ban công phòng nhìn xuống, tôi thấy một "dàn nhạc" của người thổ dân đang nhảy múa, chào đón chuyến tàu cặp bến. Họ nhảy múa, đánh trống cùng "la hét" rất khí thế cả tiếng đồng hồ, mà dân du lịch trên tàu vẫn chưa ra hết. Nhiều người còn nán ở lại ăn sáng cho no kềnh, để khỏi phải "xuống phố" tìm cái ăn, cái uống!

Đây là lãnh thổ thuộc Pháp, nhiều năm gần đây có các phong trào đòi độc lập nổ ra, nhưng cuối cùng cũng vẫn "vũ như cẩn", bởi còn dính vào Pháp, vùng đất này mới có thêm nhiều cơ hội.

30b

Một cửa hàng của người Việt

Đại đa số người Việt cư ngụ ở đây đều đã lâu đời. Có những gia đình đã di cư đến đây từ thập niên 1880, từ chính sách "mộ phu" của người Pháp. Theo sử liệu, vào ngày 12.3.1891, con tàu Chéribon đã chở 791 người Việt đầu tiên đến Nouméa. Đại đa số là tù nhân Côn Đảo bị lưu đày, chỉ có 41 người là tự nguyện. Họ là những người Việt đầu tiên đặt chân đến vùng đất hoang dã, với đủ thứ bệnh tật và thiếu thốn. Đã thế, họ còn bị bóc lột sức lao động và trả lương rẻ mạt như những kẻ nô lệ.

Tới năm 1940, đã có tới 20,000 người Việt, đa số từ miền Bắc VN đã được chở tới các vùng đất này để làm phu mỏ. Rồi với nhiều biến cố liên tiếp xảy ra, dù mãn hạn hợp đồng (từ 5 năm) họ cũng không có cách nào trở về nước, nên từ năm 1945 họ đã tản ra để lập nghiệp bằng các nghề khác.

Tới năm 1954, người Pháp thua trận Điện Biên Phủ tại Việt Nam, nên nhiều người Việt đã nghe lời của Việt Minh rằng "nước nhà đã độc lập", nên nhiều người đã biểu tình buộc nước Pháp phải đem họ trở về nước. Họ về nhiều đến nỗi, Cộng đồng người Việt lúc ấy chỉ còn lại khoảng hơn 1 ngàn người.

Anh Bùi Văn Phú một người bạn Ngã Ba Ông Tạ của tôi (hiện định cư tại San Francisco) có kể: "Khi ở Úc, biết tôi sẽ đi chơi Tân Thế Giới, một bác gốc Quảng Ninh đã kể rằng một số người khi hồi hương về Bắc (thời ấy) có đem theo của cải, rồi dần cũng bị mất hết, kể cả những chiếc đồng hồ đeo tay".

"Đến giữa thập niên 1980, Pháp và Việt Nam có thỏa thuận cho tái định cư ở Nouvelle, Calédonie những ai có thân nhân còn ở đây. Nhiều người hồi hương trước đây, nay có cơ hội trở lại đảo này để sinh sống và được nhập tịch Pháp". 

Người Việt thời gian đầu sang vùng đất này cũng bị ảnh hưởng nặng bởi nạn "trai thừa gái thiếu", bởi đa số đi làm phu là đàn ông, còn đàn bà ở lại nhà cùng con cái. Thí dụ một chuyến tàu chở họ có 500 người, thì chỉ có 2 hay 30 người là phụ nữ - thế nên người Việt ở Nouméa cũng đã sản sinh ra nhiều thế hệ "con lai" với người bản xứ.

Khi rời tàu Carnival Spendor, vì có dự định thăm khu trung tâm thương mãi của người Việt ở Nouméa nên tôi đã chọn việc đi xe buýt "hit-hop" (miễn phí), rồi tản bộ vào khu "Vietnamese Town". Phố xá êm đềm, không có gì là chốn đô hội của một thủ đô. Các bảng tên đường, bảng hiệu hàng quán đều là tiếng Pháp, nhưng khó để tìm ra ông Pháp da trắng nào lảng vảng, đa số là "dân đảo" và chủ nhân các cửa tiệm lại là người Việt da vàng.

Đứng trước một Siêu Thị, chỉ to bằng các cửa hàng Thực phẩm Á châu ở Úc, nhưng xem ra có vẻ "bán được". Chủ nhân là một ông Việt, đứng tính tiền nhưng luôn có 1 nhân viên bảo vệ đứng canh chừng! Xem ra trộm cắp ở đây cũng có vấn đề. Hỏi ra, gia đình ông đang làm chủ vài tiệm Siêu Thị như thế, và con cái thì đều đang du học ở Pháp.

30a

Khi vào mua mấy lon nước ngọt trở ra, tôi gặp một cặp vợ chồng Việt có vẻ là dân du lịch, đang nói chuyện với cô em gái của ông chủ tiệm. Hỏi ra mới biết đó là ông bà Hồng Tài, một thương gia ở Sydney. Ông Tài cũng phải công nhận: "Đến đây tôi thấy khỏe hơn ở Sydney, có thể vì không khí ở đây trong lành quá. Thêm nữa, tôi mê hải sản, mà giá cả ở đây chỉ bằng nửa ở Úc". Ông kể, đã đến thăm khu Chợ Cá ở Nouméa, nơi không thiếu thứ gì từ Tôm Cua Cá Mực... tất cả đều tươi roi rói mới lưới từ biển lên, và chưa phải ướp đá. Còn bà Hồng Tài cầm chặt ổ bánh mì baguette trên tay khen: "Bánh mì Pháp ở đây ngon lắm, nhất là ăn với jambon".

Cô em gái của ông chủ Siêu Thị, muốn đưa chúng tôi đến thăm mấy căn tiệm khác của họ, cũng nằm gần đó. Cũng như mời về nhà, để thấy căn nhà bạc triệu nằm trên đồi hướng ra biển mà họ mới mua. Nhưng chúng tôi từ chối vì không có nhiều thì giờ. Gần đó có ông Việt mặc quần đùi ngồi trước cửa tiệm. Thấy bảng ghi tô Phở có giá 1,000 France (tương đương 7 USD), và món Gỏi Cuốn 3 cái giá 1,200f.

Tôi muốn vào ăn thử, nhưng lại thấy có vẻ như "cửa đóng then gài". Hỏi ra mới biết, nhà hàng đang "ngủ trưa", (giống như truyền thống của một số cửa hàng ở Pháp). Rảo bước đi thăm phố phường, nhiều nơi có các cây phượng đỏ đang nở hoa đỏ rực, làm tôi nhớ đến thời Áo Trắng và Sân Trường vào mùa hè ở Việt Nam. Đó là dịp bãi trường vào cuối năm, và phượng đỏ là đề tài của rất nhiều văn thi nhạc sĩ.

Đi hết khu down-town, chúng tôi đến một khu có cổng chào giống như loại "China Town" của người Hoa ở hải ngoại, với truyền thống là 2 con sư tử đá "ngồi" hai bên cột. Nhưng ngay bên cạnh đó là bức tượng đồng đen (tạc cặp vợ chồng Việt và đứa con: người chồng đội mũ phu hầm mỏ, và người vợ đầu chít khăn mỏ quạ) bên dưới ghi khắc hàng chữ nạm vàng bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp:

30

"CHÂN ĐĂNG VIETNAMIENS" Ghi nhớ công ơn những người Chân Đăng Việt Nam đã góp phần phát triển nền kinh tế tại Nouvellé Caledonie và Nouvelie-Hebrides, từ cuối thế kỷ thứ 19". Bức tượng đồng đen này được dựng vào ngày 17.10.2013, nếu so với thời gian mà "Người Việt Chân Đăng" đầu tiên đến vùng đất này thì có vẻ quá chậm trễ trong việc ghi công!

Nhưng điều điều làm tôi thắc mắc hoài là ai đã dựng tượng, và ai ghi công họ, lại không được ghi lại dưới bức tượng này! Quanh khu vực ấy, có nhiều tiệm ăn uống mang bảng hiệu Việt, chứng tỏ người Hoa không hiện diện rõ nét tại đây. Hỏi thăm một chị người Việt đứng bán các loại hoa giả và đồ nhựa, chị cho biết phần lớn những người Việt ở đây là lớp di cư mới. Họ không biết nhiều đến lịch sử của những người đi trước.

Tôi hỏi họ "Chân Đăng" có nghĩa là gì, thì ngay chị bán hàng này cũng trả lời "không biết". Truy nguyên, thì chữ "Chân Đăng" là của người Pháp dùng để gọi những người Việt "đích thân đến đăng ký" để được xuống tàu, chở đến nơi này để làm phu trồng cao su và khai thác mỏ. Tôi nghĩ thời ấy chẳng mấy ai có căn cước, nên người Pháp tuyển phu chỉ chú ý đến sức khỏe. Điều thê thảm là một trong các chuyến tàu chở họ đã bị bệnh dịch hoành hành, khiến tàu phải cặp vào Queensland vứt những người bệnh xuống. Và hiện nay Cộng Đồng Người Việt ở đây đã tìm ra một ngôi mộ tập thể có gần cả trăm người "Chân Đăng" đã phải bỏ mạng trước khi đến được bến bờ.

Tôi có để ý tìm xem có "nam thanh nữ tú" nào trên đất Nouméa này hay không, thì tuyệt nhiên không thấy. Một chị tên An của cửa tiệm bán quần áo và đồ chơi nhập cảng từ Việt Nam nói: "Có chứ, nhưng tới tối họ mới ra đường! Bây giờ là buổi trưa mà anh!". Tôi cười: "Chắc họ còn đang ngủ?". Chị An nói: "Một phần thôi! Chứ phần lớn nếu có điều kiện thì họ đã di cư sang xứ khác rồi!".

Hỏi ra mới biết. Giới trẻ sau này có ăn học, thường không trở về cố quán. Nhiều người đã đi Pháp, hay đến Úc. Chị An cười nói: "Nhiều anh cứ phải về Việt Nam lấy vợ là sao? Tại sao không qua đây, nhiều cô đẹp cũng thích đi Úc lắm". Xem ra câu nói đùa của chị An lại là sự thật. Tôi biết có vài anh ở Úc đã đến nơi này cưới vợ và đưa sang Úc.

Đến thăm Nouméa nếu là công dân Mỹ hay Úc thì bạn không cần phải xin visa. Các quốc gia khác thì tôi không rõ. Riêng du khách trên thuyền Carnival Splendor chỉ cần đi qua máy đếm của nhân viên kiểm soát trên tàu là đủ. Nếu có dịp, bạn nên đến thăm vùng đất này, và các đảo khác trong vùng. Vì nơi đây bãi biển trong xanh, tuyệt đẹp.

Một ông Úc đi cùng chúng tôi đến đảo Isle Of Pines, khi thấy tôi chụp hình cho vợ, ông đề nghị cầm máy chụp dùm cho có ảnh cả hai. Ông Úc vui vẻ kể có gia đình ở Việt Nam, và đưa vợ con đi du lịch nhiều nơi, và thấy rằng chỉ có nơi đây là "Thiên Đàng Hạ Giới".Tôi cũng đồng ý với ông ấy, bởi cảnh quan và khí hậu ở các hải đảo ít người này, vẫn là chốn thần tiên hơn những nơi đô hội!

Nguyễn Vy Túy

comment Bình luận