• Tuesday, Sep 29, 2020

Lá chắn 'Đại bàng vàng' bảo vệ Moskva

Lá chắn 'Đại bàng vàng' bảo vệ Moskva

S-25 Berkut là hệ thống tên lửa phòng không đầu tiên được Liên Xô biên chế năm 1955, trở thành lá chắn bảo vệ Moskva đến giữa thập niên 1980.

August 14 at 4:00 pm

Cuối thập niên 1940, Liên Xô tỏ ra lo ngại với mối đe dọa từ các phi đội oanh tạc cơ chiến lược mang bom hạt nhân của Mỹ, cho rằng chúng có thể tiến sâu vào lãnh thổ nước này và đe dọa những mục tiêu trọng yếu ở thủ đô Moskva cùng nhiều thành phố khác. Điều này khiến lãnh đạo Iosef Stalin ra lệnh cho ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô trong vòng một năm phải phát triển hệ thống phòng không đủ sức bảo vệ thủ đô Moskva.

Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 9/8/1950 giao nhiệm vụ chế tạo tổ hợp tên lửa phòng không S-25 Berkut (Đại bàng vàng) cho Viện thiết kế số 1 (KB-1), tiền thân của tập đoàn quốc phòng Almaz - Antei hiện nay.

Trong quá trình phát triển tên lửa S-25 Berkut, Alexandr Andreevich Raspletin, tổng công trình sư của KB-1, đã đề xuất ý tưởng chưa từng có trên thế giới, đó là sử dụng hệ thống radar dẫn bắn đa kênh có thể phát hiện và bám bắt máy bay đối phương, đồng thời theo dõi đường bay và điều khiển tên lửa phòng không tới mục tiêu.

Ý tưởng của Raspletin dẫn đến sự ra đời của radar S-200 với tầm theo dõi 150 km và góc quan sát 60 độ, sử dụng hai chùm sóng riêng rẽ để bám bắt mục tiêu và điều khiển tên lửa. Nó có thể phát hiện và tự động bám bắt 20 vật thể khác nhau, dẫn bắn cho một quả đạn tới mỗi mục tiêu trong số này. Radar S-200 được hỗ trợ bởi radar cảnh giới R-113 Kama với tầm hoạt động 300 km, có nhiệm vụ phát hiện mục tiêu từ xa và chuyển tham số cho hệ thống dẫn bắn.

Vũ khí chính của tổ hợp phòng không S-25 Berkut là tên lửa V-300 có tầm bắn 45 km và mang đầu đạn nổ mạnh nặng 250 kg. Các nhà thiết kế còn đề xuất phương án tích hợp máy bay đánh chặn G-400, được phát triển từ oanh tạc cơ chiến lược Tu-4 và trang bị tên lửa đối không G-300, cùng máy bay cảnh báo sớm D-500 vào tổ hợp Đại bàng vàng. Tuy nhiên, giải pháp này bị loại bỏ sau nhiều đợt thử nghiệm.

Liên Xô tiến hành tổng cộng 81 đợt bắn thử S-25 trong giai đoạn 1952-1953, trong đó sử dụng oanh tạc cơ Tu-4 và Il-28 làm mục tiêu. Trận địa S-25 đầu tiên được triển khai năm 1954, tổ hợp đầu tiên được đưa vào biên chế ngày 7/5/1955 và đạt khả năng sẵn sàng chiến đấu sau đó một năm.

Hệ thống này lần đầu ra mắt công khai trong cuộc duyệt binh ngày 7/11/1960 trên Quảng trường Đỏ.

S-25-2-5927-1597399485

Bệ phóng của hệ thống S-25 tại thao trường Kapustin Yars. Ảnh: TASS.

Để xây dựng lá chắn cho thủ đô Moskva, các hệ thống S-25 được bố trí thành hai vòng tròn quanh thành phố, với nhiệm vụ phòng thủ chống lại đòn tập kích của 1.000 oanh tạc cơ chiến lược. Vòng tròn nhỏ gồm 22 trận địa nằm cách trung tâm thủ đô 45-50 km, vòng tròn lớn gồm 34 trận địa ở khoảng cách 85-90 km.

Mạng lưới radar cảnh giới Kama được bố trí ở cách trung tâm Moskva 130 km, cho phép phát hiện sớm mục tiêu, giúp lực lượng phòng không chuyển trạng thái chiến đấu trước khi máy bay đối phương vào tầm bắn hiệu quả. Các vành đai được điều phối bởi một trung tâm chỉ huy và 4 đài chỉ huy khu vực.

Mỗi trận địa gồm một đài điều khiển với hai radar S-200 để xác định tầm, hướng và độ cao mục tiêu, cụm 60 bệ phóng tên lửa nằm cách đó 1,5 km và khu vực hỗ trợ hậu cần. Toàn bộ các thành phần của hệ thống, trừ bệ phóng, đều đặt trong hầm bê tông kiên cố, có khả năng chịu hàng loạt quả bom tấn của Mỹ. Chúng cũng được ngụy trang hoặc bố trí trong rừng để đối phương khó phát hiện.

S-25 Berkut được coi là hệ thống phòng không uy lực nhất thế giới khi được đưa vào biên chế, nhưng nó cũng tồn tại hàng loạt nhược điểm. Radar và bệ phóng của tên lửa được bố trí cố định, không có khả năng cơ động, kết cấu trận địa dạng xương cá dễ bị phát hiện bởi trinh sát cơ tầm cao hoặc vệ tinh do thám, có nguy cơ bị đối phương tập kích tiêu diệt.

Thiết kế phức tạp và chi phí vận hành lớn khiến S-25 chỉ có thể bảo vệ thru đô Moskva. Điều này thúc đẩy Liên Xô phát triển những hệ thống phòng không đơn giản, có khả năng sống sót cao và rẻ tiền hơn như S-75 Dvina và S-125 Pechora, cho phép triển khai ở nhiều địa điểm hơn.

B-200-1-6227-1597399485

Một trong hai radar B-200 tại một trận địa S-25. Ảnh: TASS.

Tuy nhiên, S-25 vẫn liên tục được Liên Xô nâng cấp để bảo đảm khả năng phòng thủ trước các đòn tấn công hạt nhân. Phiên bản nguyên gốc có khả năng bắn hạ máy bay có tốc độ 1.500 km/h ở độ cao 15 km, trong khi dự án hiện đại hóa năm 1966 giúp nó đánh chặn được tên lửa hành trình có tốc độ tới 4.300 km/h ở độ cao 0,5-35 km. Tầm bắn của Berkut cũng được nâng lên gần 60 km.

Hàng loạt gói nâng cấp giúp Liên Xô duy trì hoạt động của lá chắn S-25 cho đến đầu thập niên 1980, thời điểm hệ thống này đã lạc hậu và không còn khả năng hiện đại hóa để đối phó với những mối đe dọa hiện đại. Sự xuất hiện của hệ thống phòng không tầm xa S-300P năm 1979 cũng thúc đẩy quá trình loại biên S-25, trong đó những tổ hợp cuối cùng bị loại khỏi biên chế chiến đấu vào năm 1984.

Tuy nhiên, phiên bản S-25M vẫn được Nga sử dụng cho tới năm 2011, trong đó các tên lửa V-300 đóng vai trò mục tiêu tập bắn cho những hệ thống phòng không hiện đại.

Theo VNE

comment Bình luận